Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công tác dân vận cũng đứng trước yêu cầu đổi mới để thích ứng với cách người dân tiếp cận thông tin và tương tác trên môi trường mạng. Từ phương thức tuyên truyền truyền thống, dân vận đang từng bước chuyển lên không gian số, góp phần xây dựng chính quyền gần dân, phục vụ nhân dân hiệu quả hơn.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với Kế hoạch số 48-KH/BTGDVTW của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương về triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan đảng tại Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương năm 2025, nhằm tạo bước chuyển căn bản trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng các cơ quan Đảng hiện đại, hoạt động trên môi trường số, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Tỉnh Tuyên Quang xác định chuyển đổi số là một trong những khâu đột phá của nhiệm kỳ 2025–2030. Ngày 17/7/2025, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Kế hoạch số 10/KH-UBND về việc tổ chức triển khai tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, thôn trên địa bàn tỉnh; triển khai mạnh mẽ phong trào “Bình dân học vụ số”, xây dựng các Tổ công nghệ số cộng đồng theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, cầm tay chỉ việc”, trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, VNeID, thanh toán không dùng tiền mặt và các nền tảng số trong sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số trên địa bàn tỉnh.

Từ đổi mới tuyên truyền đến phổ cập kỹ năng số, chuyển đổi số đang tạo chuyển biến rõ nét ở Tuyên Quang: công nghệ không còn là khái niệm xa lạ mà trở thành cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giúp người dân chủ động tham gia chuyển đổi số, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội số ngay từ cơ sở.
Bình dân học vụ số, đưa tri thức số đến từng bản làng vùng cao
Kế thừa tinh thần của phong trào "Bình dân học vụ" các đây 80 năm, trong cuộc chiến chống "giặc dốt", tỉnh Tuyên Quang triển khai mạnh mẽ phong trào "Bình dân học vụ số", đưa tri thức công nghệ đến từng thôn bản, từng hộ gia đình, tạo nền tảng vững chắc cho chuyển đổi số toàn diện.
Với phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, cầm tay chỉ việc", các tổ công nghệ số cộng đồng cùng lực lượng đoàn viên, thanh niên, đảng viên đã trở thành những "thầy giáo số", trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh, truy cập Internet và thực hiện các dịch vụ số.

Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức hàng chục lớp tập huấn, thu hút hơn 26.700 lượt người tham gia, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa vùng cao với vùng thấp. Không dừng ở những kỹ năng cơ bản, phong trào còn đưa các kiến thức về trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ năng khai thác công nghệ số vào đào tạo. Hơn 1.200 lượt học viên là doanh nghiệp, cán bộ và giảng viên đã được tỉnh tập huấn về ứng dụng AI và kỹ năng số. Nhiều mô hình như "Đại sứ số", "Gia đình số", "Chợ số - Nông thôn số" được triển khai, giúp người dân làm quen với thanh toán không dùng tiền mặt, quét mã QR và đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử.
Để Nghị quyết số 57-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng không chỉ là ban hành chủ trương đúng mà còn là khơi dậy sự đồng thuận và hành động từ cơ sở. Đội ngũ bí thư chi bộ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên chính là những người tiên phong đưa nghị quyết đến với từng thôn, bản, từng hộ dân; trực tiếp tuyên truyền, hướng dẫn và đồng hành cùng nhân dân trong quá trình chuyển đổi số. Với vai trò là cầu nối giữa ý Đảng và lòng dân, họ đã góp phần biến những mục tiêu của nghị quyết thành những việc làm cụ thể, thiết thực, tạo nền tảng để chuyển đổi số lan tỏa sâu rộng và trở thành động lực phát triển ở mỗi địa phương.
Đoàn viên thanh niên, "thầy giáo số" ở vùng cao
Tại xã vùng cao Yên Minh, hình ảnh những đoàn viên thanh niên khoác áo xanh, cầm điện thoại thông minh và máy tính bảng đến từng thôn, bản đã trở nên quen thuộc với đồng bào các dân tộc. Thay cho những buổi tuyên truyền khô cứng, các bạn trẻ trực tiếp hướng dẫn người dân kích hoạt tài khoản VNeID, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và cài đặt các ứng dụng phục vụ đời sống.

Đoàn thanh niên xã Yên Minh hướng dẫn người dân cài đặt phần mềm VNeID
Anh Nguyễn Thanh Giang, Bí thư Đoàn xã Yên Minh cho biết: “Đoàn xã đã thành lập 5 Tổ công nghệ số cộng đồng, kiên trì thực hiện phương châm "đi từng ngõ, gõ từng nhà, cầm tay chỉ việc, ban đầu, nhiều người dân còn e ngại công nghệ, quen sử dụng tiền mặt và chưa tin vào các nền tảng số, nhưng khi được hướng dẫn, tận mắt thấy chỉ với một chiếc điện thoại có thể làm thủ tục hành chính, thanh toán tiện lợi hay bán nông sản đến nhiều tỉnh, thành mà không còn phụ thuộc vào thương lái, bà con đã dần thay đổi nhận thức và chủ động ứng dụng công nghệ vào cuộc sống”.
Với phương châm "Dễ hiểu - Dễ nhớ - Dễ làm", những đoàn viên thanh niên đã trở thành những "thầy giáo số" của bản làng, góp phần đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống bằng những việc làm thiết thực. Từ những chiếc điện thoại thông minh, công nghệ đã thực sự trở thành công cụ giúp người dân vùng cao tiếp cận tri thức, phát triển kinh tế và từng bước thu hẹp khoảng cách số.
Khơi dậy sức dân, tạo động lực cho chuyển đổi số
Những nghị quyết đúng đắn sẽ chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được hiện thực hóa bằng hành động của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân. Chuyển đổi số cũng vậy, giá trị không nằm ở những nền tảng công nghệ hay hạ tầng hiện đại, mà ở việc người dân hiểu, tin tưởng, chủ động ứng dụng công nghệ để phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế. Chính vì thế, công nghệ số được xác định là cầu nối quan trọng, đưa chủ trương của Đảng đến gần Nhân dân, khơi dậy nội lực và khát vọng phát triển từ mỗi người dân.
Nhận thức rõ điều đó, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở Tuyên Quang đã đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền theo hướng gần dân, dễ hiểu, dễ thực hiện.

Cùng với việc nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, cải cách hành chính đang trở thành một hình thức dân vận hiệu quả khi lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Việc xây dựng bộ phận "một cửa" hiện đại, số hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính đã rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tính công khai, minh bạch, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với đảng và chính quyền.
Sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hùng An đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Người dân được cán bộ hướng dẫn tận tình từ khâu lấy số thứ tự, kê khai hồ sơ đến nộp thủ tục trực tuyến trên môi trường điện tử.
Ông Hoàng Văn Ủy, thôn Kiều, xã Hùng An chia sẻ: "Trước đây làm giấy tờ phải đi lại nhiều lần, thiếu hồ sơ lại phải về bổ sung. Nay cán bộ hướng dẫn rất cụ thể, nhiều thủ tục có thể nộp trực tuyến nên tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí."

Từ những thay đổi thiết thực ấy có thể thấy, không chỉ đưa công nghệ vào hoạt động của chính quyền mà còn mang đến sự thuận tiện, minh bạch và gần gũi hơn với người dân. Khi người dân trực tiếp cảm nhận được lợi ích của chuyển đổi số, niềm tin và sự đồng thuận cũng được củng cố, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Fìn Hò Trà, đưa chè Shan tuyết vùng cao vươn xa bằng thương mại điện tử

Bà con nhân dân thu hái chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên dãy Tây Côn Lĩnh
Từ những cây chè Shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên dãy Tây Côn Lĩnh, Hợp tác xã Chế biến chè Phìn Hồ với thương hiệu Fìn Hò Trà đã trở thành một trong những mô hình tiêu biểu về ứng dụng chuyển đổi số trong phát triển kinh tế vùng cao.
Nếu trước đây, sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ qua chợ phiên và thương lái thì nay, các dòng trà đạt chuẩn OCOP 5 sao và hữu cơ châu Âu đã có mặt trên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada, Tiki, Postmart cùng nhiều nền tảng số khác.

Không chỉ bán sản phẩm, HTX còn thường xuyên livestream, kể những câu chuyện về văn hóa người Dao đỏ, quy trình hái chè Shan tuyết cổ thụ và vẻ đẹp hùng vĩ của Tây Côn Lĩnh, qua đó nâng tầm giá trị thương hiệu và đưa bản sắc vùng cao đến gần hơn với người tiêu dùng.

Để tạo niềm tin với khách hàng, toàn bộ sản phẩm đều được gắn mã QR truy xuất nguồn gốc, giúp người mua dễ dàng kiểm tra vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất và chất lượng sản phẩm. Cùng với hệ thống thanh toán số đồng bộ, việc giao dịch trở nên nhanh chóng, minh bạch, mở rộng thị trường từ vùng núi cao đến khắp cả nước và từng bước vươn ra quốc tế.
Hiệu quả từ chuyển đổi số không chỉ thể hiện ở giá trị thương hiệu được nâng lên mà còn mang lại sinh kế bền vững cho người dân. Đầu ra ổn định giúp Hợp tác xã mở rộng sản xuất, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho các thành viên cùng hàng trăm hộ liên kết trồng chè. Quan trọng hơn, người dân đã thay đổi tư duy từ sản xuất nhỏ lẻ sang làm chủ thương hiệu, làm chủ thị trường trên không gian số, góp phần đưa nông sản vùng cao vươn xa và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Lý Thị Ca, từ bản làng vùng cao đến triệu người theo dõi trên không gian số
Câu chuyện của chị Lý Thị Ca, người dân tộc Dao, đang trở thành minh chứng sinh động cho sức mạnh của chuyển đổi số trong phát triển kinh tế vùng cao.

Từ những chiếc máy quay đơn giản và cuộc sống bình dị nơi bản làng, hai vợ chồng đã xây dựng kênh YouTube "Lý Thị Ca" với hơn 1,15 triệu người đăng ký, thu hút hàng trăm triệu lượt xem từ khắp thế giới. Không sử dụng lời thoại cầu kỳ, các video ghi lại chân thực cuộc sống miền sơn cước như dựng nhà tre, làm nương, nấu ăn, bắt cá, hái rau giữa núi rừng. Chính sự mộc mạc ấy đã chinh phục đông đảo khán giả quốc tế đăng ký theo dõi kênh, nhiều video đạt hàng chục triệu lượt xem.

Lý Thị Ca thu nhập từ nền tảng số bằng những video cuộc sống thực đời thường
Không chỉ tạo nguồn thu lớn vài trăm triệu đồng từ nền tảng số, gia đình Lý Thị Ca còn góp phần quảng bá hình ảnh quê hương Lâm Bình đến bạn bè quốc tế. Những thước phim về bản làng, núi rừng, suối nguồn và đời sống của đồng bào Dao, Tày đã trở thành những "tấm bưu thiếp số", thu hút ngày càng nhiều du khách đến trải nghiệm du lịch cộng đồng, góp phần phát triển dịch vụ lưu trú, homestay và các sản phẩm đặc trưng của địa phương.
Bên cạnh doanh thu từ YouTube, vợ chồng anh còn tận dụng các phiên livestream để giới thiệu và tiêu thụ nông sản vùng cao, mở thêm đầu ra cho nhiều sản phẩm địa phương. Đặc biệt, họ sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng nội dung số cho thanh niên trong và ngoài tỉnh. Từ một vài kênh ban đầu, đến nay Lâm Bình đã hình thành hàng chục nhà sáng tạo nội dung, từng bước xây dựng mô hình "Làng sáng tạo nội dung số", mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho vùng cao.

Ông Trương Văn Quang Chủ tịch UBND xã Lâm Bình, cho biết Từ sản xuất nội dung và thu nhập từ nội dung số đã đóng góp hơn 23% vào ngân sách xã từ thuế thu nhập cá nhân", việc sản xuất video cho các nền tảng mạng xã hội đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của xã. Năm 2025, tổng doanh thu từ các hoạt động sản xuất nội dung số ước đạt trên 34,6 tỉ đồng. Tiền thuế thu nhập cá nhân đóng góp vào ngân sách xã trên 1,5 tỉ đồng. Chỉ 4 tháng đầu năm 2026 người dân Lâm Bình thu khoảng 46 tỉ đồng từ YouTube, TikTok, Facebook, nhiều hộ trở thành ‘triệu phú’, ‘tỉ phú’. Hiện nay, xã Lâm Bình xác định giai đoạn 2026 -2030 phát triển du lịch gắn với chuyển đổi số, kinh tế số là nhiệm vụ trọng tâm, là hướng đi quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhân dân.
Khơi dậy sức dân, tạo động lực phát triển bền vững
Tại thôn Tráng Lộ xã Thắng Mố dự án trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và Trung học cơ sở Thắng Mỗ đang từng ngày hiện hữu trên khu đất rộng gần 47.000m² với quy mô 31 lớp học cho hơn 1.000 học sinh và tổng mức đầu tư 263 tỷ đồng, để có mặt bằng xây dựng trường học 08 hộ dân trong thôn đã tự nguyện hiến đất, trong đó có gia đình anh Giang Mỹ Tho thôn Tráng Lộ là hộ phải di rời toàn bộ nhà ở để nhường đất cho thực hiện dự án. Anh cho biết: “Tôi cảm thấy rất là vui khi được nhà nước đầu tư xây trường nội trú liên cấp cho các cháu để có chỗ học tập, nhà gần trường nên là các cháu đi học sẽ tiện và đỡ vất vả hơn”.

Sự đồng thuận của người dân đã giúp dự án được triển khai theo đúng tiến độ, góp phần vào mục tiêu của tỉnh hoàn thành, nghiệm thu và đưa vào sử dụng 06 trường khởi công đợt 1 năm 2025 trước ngày 30/8/2026, sẵn sàng phục vụ năm học 2026 - 2027.
Sùng Mạnh Hùng, đưa bản làng vùng cao lên không gian số
Sinh năm 1992, là người dân tộc Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn, Sùng Mạnh Hùng hiện cán bộ viên chức Trung tâm Dịch vụ công xã Đồng Văn là một trong những gương mặt trẻ tiêu biểu trong ứng dụng công nghệ số để quảng bá văn hóa, du lịch và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm địa phương, hiện kênh TikTok "Hùng - Hà Giang" của anh thu hút hơn 490.000 người theo dõi, 9,7 triệu lượt thích, trong khi trang Facebook cá nhân có gần 330.000 người theo dõi.
Nhiều video ghi lại vẻ đẹp hùng vĩ của Cao nguyên đá Đồng Văn, những ngôi nhà trình tường, chợ phiên vùng cao, tiếng khèn Mông và các điệu múa truyền thống đã đạt hàng triệu lượt xem, góp phần đưa hình ảnh vùng cao đến với đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Không chỉ quảng bá văn hóa, Sùng Mạnh Hùng còn tận dụng sức lan tỏa của mạng xã hội để giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của đồng bào như nông sản, dược liệu, sản phẩm thủ công và các mô hình homestay cộng đồng.

Sùng Mạnh Hùng nhận Bằng khen của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vì những cống hiến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi năm 2025.
Đặc biệt, anh còn là người tích cực lan tỏa các hoạt động giao lưu văn hóa cộng đồng tại phố cổ Đồng Văn bằng những video ngắn và các buổi livestream. Từ không gian số, những giá trị văn hóa truyền thống được quảng bá rộng rãi, góp phần thu hút du khách, nâng cao thu nhập cho người dân từ bán thổ cẩm, nông sản, ẩm thực và các dịch vụ du lịch cộng đồng.
Với cách làm sáng tạo, tôn trọng giá trị truyền thống và nhạy bén trong ứng dụng công nghệ số, Sùng Mạnh Hùng đã chứng minh chuyển đổi số không chỉ góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Mông mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào vùng cao ngay trên chính quê hương mình. Từ một chiếc điện thoại thông minh, người thanh niên Mông đã mở thêm một con đường mới để văn hóa vùng cao bước vào nền kinh tế số."
Sình Dỉ Gai, người đảng viên đưa bản làng bước vào kỷ nguyên số
Ở làng văn hóa du lịch Lô Lô Chải, dưới chân cột cờ Lũng Cú, nhắc đến sự đổi thay của bản làng, người dân đều nhắc đến Trưởng thôn, đảng viên Sình Dỉ Gai – người tiên phong thực hiện "dân vận khéo" gắn với "bình dân học vụ số", góp phần đưa một bản nghèo vùng biên trở thành điểm đến nổi tiếng của du lịch Việt Nam và thế giới.
Toàn cảnh làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải
Hơn 10 năm trước, khi người dân còn e ngại làm du lịch, anh Sình Dỉ Gai đã kiên trì đến từng hộ gia đình vận động bà con thay đổi tư duy, giữ gìn những ngôi nhà trình tường, mái ngói âm dương và bản sắc văn hóa của dân tộc Lô Lô để phát triển du lịch cộng đồng. Năm 2011, anh mạnh dạn cải tạo chính ngôi nhà của mình thành homestay đầu tiên trong làng. Từ 3 hộ ban đầu, đến nay Lô Lô Chải đã có hơn 50 hộ phát triển mô hình homestay, tạo sinh kế ổn định cho người dân.
Không chỉ làm du lịch, anh còn là người tiên phong đưa công nghệ số về bản. Cùng Tổ công nghệ số cộng đồng, anh trực tiếp "cầm tay chỉ việc", hướng dẫn bà con sử dụng điện thoại thông minh, chụp ảnh, quay video, quảng bá homestay trên Facebook, Zalo, TikTok và nhận đặt phòng trực tuyến. Từ những người chỉ quen làm nương, nhiều hộ dân nay đã tự tin quản lý khách, kết nối với các công ty lữ hành và kinh doanh trên môi trường số.

Anh Sình Dỉ Gai vận động bà con thay đổi tư duy, phát triển du lịch cộng đồng và trên môi trường số
Đặc biệt, anh vận động các hộ kinh doanh triển khai thanh toán không dùng tiền mặt, phổ cập mã QR tại các homestay, cửa hàng lưu niệm và dịch vụ ăn uống. Đồng thời, thông qua các nhóm Zalo của thôn, các hộ dân dễ dàng kết nối, cung ứng rau sạch, gà bản, lợn đen và các sản phẩm địa phương phục vụ khách du lịch, tạo nên chuỗi liên kết phát triển kinh tế cộng đồng.
Từ sự gương mẫu của người đảng viên và cách làm dân vận gần dân, sát dân, kết hợp chuyển đổi số với bảo tồn văn hóa, Sình Dỉ Gai đã góp phần đưa Lô Lô Chải vươn mình mạnh mẽ. Câu chuyện của anh là minh chứng sinh động cho thấy khi công nghệ được đặt đúng chỗ và người dân là chủ thể của chuyển đổi số, những bản làng vùng cao hoàn toàn có thể phát triển bền vững mà vẫn gìn giữ nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống.
Lô Lô Chải, ngôi làng thông minh từ chuyển đổi số
Làng văn hóa du lịch Lô Lô Chải đang trở thành minh chứng sinh động cho hiệu quả của chuyển đổi số trong phát triển du lịch cộng đồng. Không bê tông hóa hay hiện đại hóa bằng những công trình đồ sộ, ngôi làng lựa chọn một hướng đi riêng: đưa bản làng lên không gian số nhưng vẫn giữ nguyên những nếp nhà trình tường, mái ngói âm dương và bản sắc văn hóa truyền thống.

Làng Lô Lô Chải, Tuyên Quang, Việt Nam tại Lễ trao giải thưởng Làng du lịch tốt nhất thế giới
Thông qua Tổ công nghệ số cộng đồng, 100% hộ làm du lịch được hướng dẫn sử dụng mạng xã hội để quảng bá homestay, giới thiệu dịch vụ và kết nối du khách. Hơn 40 hộ kinh doanh du lịch cộng đồng đã chủ động nhận đặt phòng trực tuyến, thanh toán bằng mã QR, đồng thời ứng dụng bản đồ số và mã QR để giới thiệu lịch sử, văn hóa của điểm đến. Nhờ cách làm sáng tạo đó, hình ảnh Lô Lô Chải được lan tỏa mạnh mẽ trên Internet, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Đặc biệt, năm 2025, ngôi làng đã được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) vinh danh là "Làng du lịch tốt nhất thế giới". Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân vùng cao mà còn khẳng định chuyển đổi số chính là cầu nối đưa văn hóa bản địa vươn tầm quốc tế, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Chủ động học hỏi kỹ năng số, tiếp cận phương thức sản xuất mới, xây dựng thương hiệu cá nhân và thương hiệu cộng đồng trên không gian mạng những chuyển biến ấy không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần bồi đắp niềm tự hào quê hương, gìn giữ bản sắc văn hóa và khơi dậy khát vọng phát triển trong mỗi người dân.

Cụ thể hóa tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo, dân vận năm 2025, nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức công tác tuyên giáo, dân vận, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số để công tác dân vận thực sự gần dân, hiểu dân, đồng hành cùng nhân dân và khơi dậy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Những kết quả ở Tuyên Quang cho thấy, khi chủ trương đúng được cụ thể hóa bằng cách làm phù hợp với thực tiễn, chuyển đổi số không chỉ tạo ra những thay đổi về công nghệ mà còn khơi dậy niềm tin, phát huy sức dân và tạo động lực phát triển bền vững từ chính nội lực của nhân dân.
Tác giả; Hoàng Tính _VHĐA